trạng sư trả lời
cứ điều 30 và điều 31 Bộ luật lao động năm 2012, người dùng cần lao có trách nhiệm bố trí theo đúng công việc trong hiệp đồng lao động cho người cần lao. Chỉ khi nào gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, vận dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn cần lao, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh dinh, người dùng lao động mới được quyền lâm thời chuyển người lao động làm thuê việc khác so với giao kèo cần lao, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm.
Nếu người dùng cần lao lâm thời chuyển người cần lao làm thuê việc khác so với hợp đồng cần lao mà quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong năm thì phải có sự đồng ý của người cần lao.
Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu người dùng lao động chuyển người cần lao làm công việc khác với hiệp đồng cần lao thì người lao động có quyền không làm việc; song song, ý kiến lên tổ chức công đoàn, cơ quan quản lý quốc gia về lao động để được bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình.
Theo điều 37, người cần lao có quyền đơn phương chấm dứt giao kèo lao động nếu không được bố trí công việc đúng theo hợp đồng lao động; nhưng phải báo trước chí ít 3 ngày làm việc để người dùng lao động biết.
ngoại giả, từ ngày 1/1/2021 khi Bộ luật cần lao năm 2019 có hiệu lực, Căn cứ điều 35 người lao động có quyền đơn phương kết thúc hiệp đồng lao động mà không cần báo trước nếu không được bố trí theo đúng công việc tại hợp đồng cần lao.
cứ điều 29 của luật mới này, người cần lao không đồng ý trợ thời làm mướn việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm mà phải ngừng việc thì người dùng lao động phải trả lương ngừng việc cho người cần lao.
trạng sư
Phạm Thanh Hữu
Đoàn Luật sư TP HCM
0 nhận xét:
Đăng nhận xét